Xin tạ lỗi Cụ Bà Lương Văn Can, Lê Thị Lễ

Năm học 1974-1975, trường Trung học Cộng đồng Đô thị Tổng hợp Quận 8 được Nha Trung học đổi thành Trung học Lương Văn Can, tên do Hội đồng Giáo sư nhà trường chọn trong số 3 danh nhân được đề nghị: Lê Thánh Tôn, Đào Duy Từ và Lương Văn Can. Để đánh dấu sự kiện nầy, nhà trường đã phát động tuần lễ học tập về thân thế, sự nghiệp của cụ Lương Văn Can và trong Ngày Truyền Thống 23 tháng Chạp năm đó (nhằm Chủ nhật 2.2.1975), đã tổ chức màn hoạt cảnh Đông Kinh Nghĩa Thục bị thực dân Pháp đàn áp và giải tán.

Đến năm 1997, nhân kỷ niệm 70 năm ngày mất của cụ Lương Văn Can, BLL CHS đã vận động tài chánh thực hiện một tượng đồng bán thân của cụ và tượng được dựng giữa khuôn viên trường đúng Ngày Nhà giáo VN 20.11.1997. Sau đó trong các Ngày Truyền Thống Lương Văn Can, các học sinh đều được học tập và thi trắc nghiệm về thân thế và sự nghiệp của cụ...

Trong những dịp ghi nhớ công ơn của cụ Lương Văn Can nói trên, những kẻ hậu sinh đã có lỗi rất lớn vì đã không hề nhắc đến, dù chỉ một lần, cụ bà Lê Thị Lễ. Bà không những là chỗ dựa vững chắc của cụ ông mà còn, cùng với cụ ông, chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để đóng góp vào sự nghiệp giáo dục và phong trào yêu nước đầu thế kỷ 20.

Khi Đông Kinh Nghĩa Thục bị đổ nợ, cụ bà đã vui lòng bán cửa hàng là của hồi môn khi đi lấy chồng và sau khi con cái chết hết, cụ bà đã dốc toàn bộ tài sản còn lại để mở trường Nhị Khê, nay mang tên Lương Văn Can ở Hà Nội. Bà chứng kiến cảnh chồng bị thực dân Pháp đày biệt xứ, qua Nam Vang (Campuchia), và đau đớn hơn, thấy năm đứa con trai mình lần lượt mất, kẻ thì chết vì bệnh người thì bị bắt rồi hy sinh, để lại hai vợ chồng già không ai phụng dưỡng.

Trong khuôn khổ nhỏ hẹp của Bản Tin nội bộ nầy, xin ghi chép đôi điều vắn tắt về cụ bà như một lời tạ lỗi và ước mong trong các thầy cô và cựu học sinh sau nầy có người quan tâm nghiên cứu đầy đủ hơn. Nói theo từ ngữ ngày nay, cụ bà Lê Thị Lễ xứng đáng được phong nhiều lần danh hiệu "Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng" và thiết nghĩ, bên cạnh trường học THPT Lương Văn Can, nếu như một trường khác được mang tên cụ bà thì cũng là điều rất hợp lý và công bằng.

Bài nầy cũng là một phần nhỏ để kỷ niệm 150 năm ngày sinh của cụ Lương Văn Can (1854-2004).

Ban Biên tập Bản Tin CHS LVC xin phép nhà văn, nhà thơ Lê Minh Quốc được ghi lại đây bài trong sách "Mối tình đầu của các danh nhân" (Tập I, Nhà Xuất bản Thanh Niên, 2000). HCH

LƯƠNG VĂN CAN
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam

Lương Văn Can (1854-1927) là một trong những người sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục tại số 10, Hàng Đào, Hà Nội vào năm 1907. Lịch sử giáo dục Việt Nam đã ghi nhận: "Người Pháp tự đại, chủ quan đã run sợ cuống cuồng trước Nghĩa Thục. Người Pháp đã gấp gáp đàn áp Nghĩa Thục, một cách dã man. Điều đó chứng tỏ Nghĩa Thục đúng, đẹp và cách mạng".

Người phụ nữ đứng sau lưng Lương Văn Can để giúp ông hoàn thành nhiệm vụ của một Thục trưởng chính là người tình đầu của ông. Năm 21 tuổi, ông thi đỗ cử nhân và chờ qua năm sau vào Huế tiếp tục thi Hội. Lúc đó cha của ông là Lương Văn Tích đã cưới cho ông người vợ ở huyện Thường Tín. Ông chỉ biết cô gái nầy là con gái của tú tài Lê Anh Sơn ở làng Bình Vọng, tên Lê Thị Lễ, buôn bán ở Hà Nội, chứ đôi bên chưa gặp mặt. Dù vậy, sau khi thành gia thất, hai người đã chung sống với nhau thật hạnh phúc và cùng chịu đựng biết bao gian nan do thời cuộc đưa đến.

Trong Lương gia thế phả, Lương Văn Can đã viết về người tình của mình: "Tính người bình tĩnh, đoan trang, thần sắc luôn tỏa ra sự trong sáng, nghiêm cẩn mà dịu dàng, nói năng nhỏ nhẹ mà luôn diễn đạt được ý tứ rõ ràng". Khi về làm dâu họ Lương, bà Lễ đang buôn bán ở cửa hàng Quảng Bình An ở phố Hàng Ngang. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục hoạt động chưa tròn một năm thì bị thực dân Pháp đàn áp, các khoản nợ do công việc dở dang - khoảng 7.000 đồng bạc Đông Dương - đều do một tay bà xoay xở, chèo chống. Không một chút ngần ngại, bà quyết định bán món hồi môn do cha mẹ san sẽ khi xuất giá là cửa hàng Quảng Bình An. Tâm trạng của bà ghi lại trong Lương gia thế phả, bà nói :

- Tuy đã nói lời cổ vũ để ông theo trọn con đường phụng sự Tổ quốc ... vậy mà khi cầm bút ký giấy phát mại bất động sản thì tay tôi cứ run lên. Bởi vì có bao giờ tôi dám nghỉ đến việc phải bán tài sản của tiền nhân để lại.

Qua năm sau, con trai trưởng của bà là Lương Trúc Đàm thọ bệnh mất, hai con thứ là Lương Nghị Khanh và Lương Ngọc Quyến đã trốn sang Nhật theo phong trào Đông Du của chí sĩ Phan Bội Châu. Cũng trong năm này, xảy ra vụ Hà Thành đầu độc nên ông Lương Văn Can liên tục bị Pháp mời lên Sở Liêm phóng để xét hỏi. Qua năm 1913 lại xảy ra vụ ném tạc đạn vào khách sạn Hà Nội, thực dân Pháp đã bắt bớ hàng trăm người, trong đó có Lương Văn Can. Ông bị chúng kết án đày 10 năm biệt xứ sang Nam Vang (Campuchia). Bà bình tĩnh đưa chồng lên toa tàu chở tù đi đày. Sau đó, bà tìm mọi cách để đưa con út là Lương Ngọc Bôn và con gái là Lương Thị Bảy qua Nam Vang săn sóc cho cha. Bà ở nhà với người con thứ năm là Lương Ngọc Bân, nhưng rồi mùa thu 1914 người con này cũng qua đời vì bệnh lao. Chưa nguôi ngoai nỗi đau này thì bà lại nhận được hung tin là Lương Nghị Khanh từ Hương Cảng qua Campuchia thăm cha thì thọ bệnh mất ở đất khách quê người, còn Lương Ngọc Quyến lại bị Pháp bắt và đưa về xử ở Hà Nội. Bị gọi ra toà, bà cứng cỏi trả lời :

- Từ thuở còn là bào thai, chúng tôi đã dạy con về tình yêu thương nòi giống, chủng tộc. Bởi vậy, con tôi theo đuổi mục đích cứu nước là hợp với đạo lý của gia đình và của đất nước chúng tôi, sao gọi là phản loạn ?

Rồi bà quay sang nói với con:

- Mẹ chỉ mong con xứng đáng là con dân nước Việt đến hơi thở cuối cùng.

Sau này, Lương Ngọc Quyến bị đày lên Thái Nguyên. Quyến cùng với Đội Cấn trở thành lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917 và hy sinh như một người anh hùng. Bao nhiêu biến cố dồn dập xảy ra nhưng bà Lễ vẫn đảm đương mọi việc trong gia đình. Mãi đến năm 1921, sau 8 năm bị lưu đày, trở về nhà cũ, Lương Văn Can nhận xét với lòng biết ơn về sự hy sinh của vợ: "Do vợ ta biết trị gia, nên ta đi xa gần chín năm trời mới về nhà mà cảnh sắc gia đình vẫn y nhiên vô dạng". Nhưng định mệnh oan khốc tiếp tục giáng xuống gia đình bà, năm 1923 con trai út Lương Ngọc Bôn qua đời vì bệnh lao. Như vậy cả năm người con đều về suối vàng, không ai ở lại để phụng dưỡng ông bà Lương Văn Can.

Sau khi chồng được tự do, bà đã dốc hết tài sản để xây dựng trường Nhị Khê học đường (nay là trường được vinh dự mang tên Lương Văn Can) nhằm giúp chồng tiếp tục đeo đuổi sự nghiệp. Trường hoạt động được ba năm thì bà mất vào ngày 24.3 năm Đinh Mão (1927). Lương Văn Can đã ca ngợi sự hy sinh vô bờ bến của bà Lê Thị Lễ : "Là nhà buôn có đức nghiệp nên đã có đủ kinh tài, trên thì phụng dưỡng cha mẹ và dưới thì biết dạy con cái nên người. Còn về đức hạnh thì biết giữ cho gia tộc trong khuôn khổ Nho Giáo, trên kính dưới nhường, giữ đạo vợ chồng chung thủy, trong muôn vàn gian lao hiểm họa...". Trong đám tang của bà, Lương Văn Can cùng các môn sinh đã treo tấm trướng với sáu chữ vàng: "Bảo quốc tuý, tuyết quốc sĩ" nghĩa là "Giữ lấy tinh hoa của dân tộc, rửa mối nhục mất nước".

 Lê Minh Quốc
(Sách đã dẫn trang 25-28)

Các tài liệu liên quan đều cho biết trụ sở Đông Kinh Nghĩa Thục là nhà của cụ Lương Văn Can ở số 4 phố Hàng Đào, Hà Nội. (Chú thích của Ban Biên tập Bản Tin LVC).