Cái lẽ biến và cái lẽ hằng
Cái lẽ biến chính là cái lẽ bất biến duy nhất trên đời nầy. Ông bà mình nói như vậy và tất cả những ai cho là mình từng trải sự đời đều đồng ý như vậy. Biến đổi và biến đổi nhanh đến nỗi bà Huyện Thanh Quan nhìn theo không kịp:
Lịch sử các triều đại xuống rồi lên, nhanh như lượn sóng sau đùa lượn trước, lăng xăng lích xích, rộn rộn ràng ràng. Tiếng chuông trước bị tiếng chuông sau đẩy vào quá khứ, xa như ngày nay cách ngày xưa vậy. Hồi chuông càng lúc càng nhanh, cho ta cảm giác sự đổi thay di chuyển trong thời gian nhanh hơn tốc độ của ánh sáng nhiều lần. Biết cái lẽ đó, con người lúc nào cũng phòng bị "Cư an tư nguy", "Cư trị tư loạn". Lúc nào cũng coi như sắp biến tới nơi vậy.
Năm 1974 tôi vay tiền anh em, mua miếng đất trong Rạch Cát. Thầy Hưng nói, "Thằng cha Hười sống không tưởng vừa vừa thôi. Vô sản đến nơi rồi, tự nhiên đi mua đất, để trở thành địa chủ".
Biết người không ai bằng thầy Hưng lại cho rằng mình "không tưởng", trong lúc rõ ràng là mình "Trục vật, tuỳ thời". Nghĩ đến ngày "nát giỏ" bèn lo kiếm đất "trồng tre". Lấy thối làm tiến. Tam thập lục kế tẩu vi thượng sách mà.
Anh Vũ cho mượn tiền. Anh Du vào thăm, về mua cho một chiếc áo ấm chui qua đầu, màu xanh sẫm. Mặc đi dạy một lần, thấy không hợp, xếp cất. Thật ra anh Du cho cái áo đó đâu phải để mặc đi dạy. Sau nầy đi học Cải tạo vào rừng, vào núi, sương muối buổi sáng, gió bắc buổi chiều, nhờ chiếc áo đó giữ ấm biết bao nhiêu!
Nay anh Vũ đã đi xa rồi. Anh Du đã đi xa trước đó nữa. Nhưng anh Hưng thì còn. Tôi tìm thấy ở anh Hồ Công Hưng cái lẽ bất biến, cái lẽ hằng.
Sau năm năm rưỡi tôi trở về nhà. Anh Hưng đến thăm. Súng săn trên vai. Giày ống lội nước. "Rỡ mình lạ vẽ cân đai," "Vẫn còn hàm én, mày ngài như xưa ."
Học trò đến thăm mỗi ngày một đông dần, sau phải hẹn ngày. Ngày hẹn nào cũng có anh Hưng, mang rượu đến, mang lưới đến. Khi thì rượu Gò Đen, khi thì rượu nếp than, khi thì rượu ngâm thuốc. Thầy trò trải mấy manh chiếu dưới gốc tre già. Buổi trưa, thức ăn thầy trò mang đến, có gì ăn nấy. Có lần anh Hưng mang vào một ghè rượu cần, đóng vai già làng, dạy thầy trò uống rượu cần. Buổi chiều kéo lưới. Xuống ao, bắt được cá phi, ăn cá phi. Bắt được cá lóc, ăn cá lóc. Bắt được cá chép, ăn cá chép. Nấu một trã cháo cá to. Múc mỗi đứa một tô cháo, có cá. Chan nước mấm trong, xì xụp húp. Gậm cái đầu cá, phun xương vào gốc tre. Trời đất vẫn còn là Trời đất năm nào. Lòng người không đổi, thì Trời đất cũng ở yên. Cái hình ảnh anh Hưng kéo lưới làm cho Trời đất cầm lòng không đậu. Có lần Trời đang nắng bỗng đổ cơn mưa. Trong lúc vui, học trò ướt áo sao bằng thầy lội dưới ao. Thế là sự "thoạt nắng thoạt mưa" của thời tiết chẳng ảnh hưởng gì đến tình yêu thương giữa thầy trò.
Nay, họp hành ngày một đông, tiệc tùng ngày một lớn. những lo lắng ngày xưa đã theo thời gian mà đi vào quá khứ. Thầy Hưng nắm được sự biến đổi của từng em, trong cuộc đời dâu bể: Vợ con, nhà cửa, công ăn việc làm, thậm chí đến "cách ăn nết ở". Thầy cô cũng không ngoại lệ. Thời thế quả đã có biến đổi. Lòng người cũng quả đã có biến đổi. Nhưng nếu mọi người chúng ta đều sống được như thầy Hồ Công Hưng : Bằng một tấm lòng yêu thương, trước sau như một, thì đối với mọi biến đổi nào có sá gì. Tuy: "Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt," "Nước còn cau mặt với tang thương."
Tôi vẫn còn nghe rõ đâu đây tiếng hát, tiếng vỗ tay "nối vòng tay lớn". Tôi cũng có nghe tiếng khóc, nhưng không phải tiếng khóc đoạn trường, mà là tiếng khóc mừng nhau, tưởng không còn bao giờ gặp lại.
Một con én không làm nổi mùa xuân. Một mình thầy Hưng không làm nổi tinh thần Lương Văn Can ngày nay. Nhưng nếu không "ca" riêng anh Hưng một phát thì lòng không thoải mái, thảnh thơi được. Tôi sống "có" mà thành không. Anh Hưng sống "không" mà thành có. Tôi thèm biết mấy hình ảnh sinh hoạt của thầy Uông Đại Bằng, thầy Hồ Công Hưng, thầy Nguyễn Văn Trọng và quý thầy cô khác nữa, trong những buổi sinh hoạt truyền thống, những buổi thăm viếng đầy tình người, trong những cuộc du lịch đó đây trên đất nước. Đất nước mình đẹp lắm, quê hương mình đẹp hơn cả. Nhưng đẹp vô cùng là tình thầy trò. Đặc biệt là thầy trò Lương Văn Can, qua một cuộc đại biến, vẫn đứng vững trong tình yêu thương không hề thay đổi.
Tạ Văn Hười