Một tháng về Việt Nam - Thầy Phùng Văn Phụng -
|
Được tin ba vợ là Ông Võ văn Thông mất lúc 11 giờ 30 phút tối thứ bảy 12-07-2003, tôi vội liên lạc với Việt Travel để lấy vé máy bay về Việt nam gấp, nhưng không có số điện thoại nhà của anh Lý, làm sao gọi được đây, mà bây giờ cũng nửa đêm rồi nếu có số điện thoại cũng chưa chắc gọi được vì anh Lý cũng còn đang ngũ. Anh Lý là trưởng cơ sở Việt Travel mới có thể lo giùm vé máy bay gấp như vậy mà thôi. Như có sự hướng dẫn của đấng bề trên. Tôi lấy báo Thế giới tìm quảng cáo của Việt Travel và tìm thấy địa chỉ E.Mail nhưng lần đầu đánh sai bị trả về. Tôi lại tìm qua Website và có E.Mail chính xác nên E.Mail cầu may mà thôi, trong thơ tôi có ghi số phone tay của tôi. Tôi không có hy vọng gì nhiều vì nếu không đi được thì ở quê nhà chị Nhung, chị vợ, sẽ chôn cất vào ngày thứ ba, còn nếu về được thì dời ngày chờ con gái út (bà xã tôi) về là thứ năm mới hạ huyệt. Sáng Chủ Nhật, đi nhà thờ mà lòng nóng như lửa đốt. Đang còn dự lễ nhà thờ thì phone tay của tôi rung mấy lần, tôi cứ nghĩ là sáng Chúa nhật có ai cần gì mà gọi gấp quá vậy. Sau lễ, tôi ra khỏi nhà thờ, gọi trả lời ngay xem ai đó đã gọi mình dữ dội như thế, vừa bắt phone nghe tiếng nói của anh Lý là niềm hy vọng sẽ về Việt Nam kịp dự tang lễ đã nhen nhúm ngay trong đầu tôi. Anh Lý trả lời ngay là nếu đi ngày Chúa Nhật thì chỉ có một chỗ, bà xã tôi chắc là không dám đi một mình, anh Lý nói tiếp là sáng thứ hai anh hy vọng sẽ tìm được hai chỗ. Bà xã tôi gọi ngay về Việt Nam xin dời ngày chôn cất lại đến thứ năm. Thứ hai lên máy bay, thì chiều thứ tư tới là vừa kịp dự lễ tang và lễ hạ huyệt sáng thứ năm. Tối Chúa Nhật tôi E.Mail cho Thanh Vân, Cựu học sinh Trường Lương văn Can, cho Tấn + Mai là con tinh thần của tôi. Gọi điện thoại báo cho gia đình biết là sẽ về trong ngày thứ tư để cho gia đình cha mẹ và các em mừng. Tôi cũng thông báo cho anh chị em trong văn phòng biết, cho nhóm Thân hữu Cần Giuộc và Cần Đước biết. Vì đã chuẩn bị cuối tháng bảy về, nên bà xã tôi đã mua sắm gần đủ chỉ còn cần một ít quà và chuẩn bị tiền mặt nữa mà thôi. Tôi nhắc cho bà xã tôi là làm sao cho đơn giản, nhẹ nhàng vậy mà cũng hai va-li. Tôi đã dự trù đi ngã Nhật Bản, chỉ đổi chuyến bay một lần mà thôi. Nhưng vì gấp quá nên đành phải qua ngã Đài Loan, xuống phi trường Đài Bắc nên máy bay phải đi từ Houston đến Los Angeles, chuyển máy bay để đi Đài Bắc lại chuyển máy bay khác, để đi từ Đài Bắc về Saigon. Hai lần lên xuống máy bay, chuyển máy bay rất là mệt nhọc và gây ù tai, khó chịu. Nhưng lòng nôn nóng được về thăm Cha mẹ và bạn bè cũ, các Cựu học sinh trường Lương văn Can làm cho tôi thấy vui vui, lòng lâng lâng như có cái gì khó tả: Cứ mong về sớm để kịp dự lễ tang và sớm gặp lại người thân. Máy bay vừa đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, đứng dậy ra khỏi phi cơ, trời bắt đầu nóng bức, nhưng lòng nôn nóng đi ra khỏi khu vực này để gặp thân nhân đã làm tôi không còn thấy cái nóng gay gắt, "cái nóng nung người nóng nóng ghê" nữa. Vì đi quá gấp nên tôi phải đi đến khu làm Visa vào Viết Nam tại bên phải trong khu vực phi trường. Tôi gặp ngay một anh mang bảng tên Dịch Vụ Du Lịch Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu gọi tên tôi. Tôi giựt mình. Lúc nào cũng lo âu, không biết mình về lần này có bị khó khăn gì không? Cho nên khi gọi đến tên là giựt mình liền. Anh này lấy Passport của tôi đến bàn làm giấy Visa. Anh nói là "bà xã tôi sắp hàng trước đi để chờ có giấy tờ rồi ra luôn". Tôi đứng đợi một hồi lâu, có mấy người đi sau bà xã tôi, đã trình giấy tờ qua cổng rồi, mà tôi vẫn chưa nhận được visa. Có một chị đứng gần nói: "Hôm nay tôi về để dự lễ tang của người chị tôi, nhưng sáng hôm nay đã chôn cất rồi, mà tôi còn ở đây chắc chắn là không kịp". Còn hai người đàn ông, anh em ruột, cũng đi chung chuyến máy bay với tôi, một người thì đã có visa còn anh kia thì cũng phải làm thủ tục xin visa tại phi trường như tôi vậy. Lý do là cha anh đã chết, nên anh về gấp để chịu tang. Hầu hết những người về gấp, xin visa tại chỗ này đều có người thân mất. Tôi nhận được visa, vội bước vào hàng mà bà xã tôi đã đứng sẳn, lấy hai tờ giấy 5 đô-la kẹp vào mỗi Hộ chiếu một tờ, tỉnh bơ, coi như ai cũng phải làm thủ tục đầu tiên này vậy. Tôi quên mất không có một vài đô la nào cho anh bạn đã làm giấy tờ giùm cho tôi, vì anh Lý có dặn là đã trả tiền hết rồi nên không phải chi thêm một đồng nào nữa cả. Những người về trước căn dặn là phải có một chút tiền thì mới suông sẽ còn không có tiền kẹp trong hộ chiếu thì phải bị làm khó dễ, đứng đợi lâu, trong khi thân nhân đang đợi ở ngoài trời nắng, chờ mình ra. Qua máy kiểm soát hành lý, để hai rương to lên chiếc xe đẩy ra ngoài tìm thân nhân gặp chú Năm, Thím Sáu, Thím Ba, Trúc con thím Năm đủ cả. Tính, con anh năm Vịnh, lái xe đến để mang đồ đạc lên xe chạy về nhà. Trong khi đó ba tôi lúc này khi biết khi không biết, nhưng đã ngồi đợi tôi từ sáng tới 3, 4 giờ chiều. Khi thấy tôi về, ba tôi đã rất vui mừng, đã nhìn tôi mà cười chứ không nói được gì, vì sau một cơn bịnh nặng, tai biến mạch máu não đã không nói được nữa, lúc nào vui lắm chỉ nói được nhiều lắm là ba chữ mà thôi. Như khi gặp hai Hưởng con chú Út, ba tôi đã nói được "Sao lâu vậy". Bịnh lần trước nặng lắm tôi đã về thăm tháng 04 năm 2000. Sau đó nói được, hết bịnh, vui vẻ trở lại. Bịnh này gọi là bịnh bại não. Bịnh này làm cho bịnh nhân không nhớ, thường quên hết mọi sự. Đám cưới con gái thứ nhất là Uyên Phương có nhờ ba tôi làm thơ để tặng cho hai cháu mà ba tôi cũng không làm được một câu nào. Trước đây đám cưới của con Lùn (Hoàng Yến) con gái út của tôi, ba tôi có làm một bài thơ tặng cho hai đứa như sau: Song đường đức độ hộ duyên con
Viết ngày 29 tháng 06 năm 1996. Có ghi câu "Ông Bà chúc mừng cho hai cháu trăm năm hạnh phúc" và có câu thòng như sau: "Ba nhờ hai con xem câu nào không được hay sửa lại và viết lại sạch sẽ để mừng cháu. Ghi là Ba của 2 con" và ký tên; còn có ghi chú thêm nữa "lúc này ba viết không được đẹp, viết rung, mắt lờ..." (ba viết mắt lờ chứ không phải mắt mờ) nguyên văn. Sau khi vào đến nhà nhìn thấy ba má già rồi, khuôn mặt nhăn nheo mình mới thấy thời gian quả là khắc nghiệt. Má tôi nói ở dưới quê mấy người già cả chết gần hết. Bà 8 Quờn, Bác tư Cứng. Hôm về cũng hay tin Ông 9 Tất, ba của Mỹ Duyên bạn học chung Trường tiểu học Chợ Núi và trường Trung Học Cần Giuộc, trước kia làm Tổng Phước Điền Hạ năm 1954, mới vừa mất khoảng 96 tuổi. Rồi cô của thím năm cũng mất. Bà chín Thố má của tư Ẩn, năm Nhiên, sáu A, bảy Thượng cũng mất. Anh 4 Nên ba của Dũng+ Mười cũng mất sau khi bị tai biến mạch máu não nằm một chỗ khoảng mười năm. Thăm luôn ba của Đào thị Mỹ cựu học sinh Lương văn Can cũng mất, biết được là nhờ Trần Minh Tùng thông báo và chở đi thăm. Khi về tới Đất Đỏ khoảng 5 giờ bà con ở nhà đang chờ "sáu về" vì bà xã tôi thứ sáu trong nhà. Đội khăn tang, lạy bàn thờ. Lạy người chết, đó là phong tục của người Việt Nam ở quê Đất Đỏ này. Đánh trống, thổi kèn ta khi có người đến cúng, đến lạy. Có Hội mai táng,lo cho những người mất, lo tẩn liệm, lo chôn cất. Đêm thứ tư có hát cải lương, hồ quảng cho tới khoảng một giờ khuya. Có múa, có hát hồ quảng khi đi đưa linh cửu. Múa hát như vậy cũng gần nữa giờ những bài hát này liên quan đến tình thương xót, phụ tử, diễn tả sự đau lòng của kẻ ở, người ra đi vĩnh viễn. Tôi chụp rất nhiều hình trong giờ phút cuối này để lưu niệm. Tôi ở lại Đất Đỏ mấy đêm nữa, không gian yên tỉnh, không ồn ào như ở Saigon, nhà của ba má tôi đường Phạm thế Hiển. Bây giờ có quá nhiều thay đổi, đường sá mở nhiều, Bà rịa về Long Điền về Long Hải, Phước Hải đã mở thêm nhiều đường mới so với năm 1967, 1968 lúc tôi còn đi dạy học tại Quận Đất Đỏ này. Đường sá cũng được mở rộng ra. Chợ Bà Rịa cất lớn hơn, chợ Long Điền cất chỗ mới lớn hơn chợ cũ nhiều. Chợ Đất Đỏ cất ở vị trí khác. Rạp hát Quốc Thống chỗ tôi trọ để đi dạy hoàn toàn thay đổi. Rạp hát nay cất ở vị trí chợ Đất Đỏ cũ. Ngồi nói chuyện với Nga con chị năm, Nga mới kể chuyện về bà ngoại, Nga nói bà ngoại thương hai đứa cháu ngoại, một đứa tên là Cà Na, một tên là Xí Mụi và trước khi mất có dặn dò là không được đánh đứa nào cả. Con Nga nói rằng sau khi bà ngoại mất, có một con bướm, màu sắc rực rỡ đủ màu, bay vào nhà, bay lẫn quẩn trong buồng, bay lên nhà trước rồi đậu lên vai Cà Na và đậu lên vai Xí Mụi, đậu nhiều lần trên vai hai đứa như thế và ở mãi trong nhà không bay đi đâu cả. Bay xung quanh bàn thờ rồi bay lẫn quẩn trong nhà mà không chịu bay ra ngoài sân. Mãi đến khi qua ngày cúng cửu lần đầu thì không còn thấy con bướm đâu nữa cả. Con Nga cho rằng chắc Bà ngoại làm dấu chỉ cho biết tình cảm của bà dành cho Cà-Na và Xí Mụi. |
Câu chuyện con bướm tương tự cũng xảy ra trong sách Hồi Ký Tình Yêu thăm thẳm của Linh Mục Chu Quang Minh trang 286 và 287. Viết lại chuyện trong sách như sau: Em ruột cha Sinh là chị Nhung kể: "Sau khi mẹ qua đời thì có con bướm thường bay trong nhà. Mồng hai Tết 2.2.2003 cháu Hoa là người ở sát bên mẹ trong những năm tháng cuối đời. Cháu khấn xin để bà cố cho một dấu hiệu thương yêu. Rồi con bướm tới đậu ngay trên chỗ khi còn sống cố thường ngồi. Nhiều người qua lại, chó mèo cũng chạy ngang qua, vậy mà con bướm không sợ sệt, vốn đậu tại đó, Thấy lạ con đến tận nơi,và khấn xin: Nếu mẹ hiện về thì lên đậu trên tay con. Rồi xoè tay ra thì con bướm lên đậu trên tay thật. Con lại khấn để mẹ nơi xứng đáng hơn. Lúc đó con bướm 'đi bộ' từ dưới bàn tay theo cánh tay, lên đầu , và ở trên đầu con mấy tiếng đồng hồ liền. Con đi tắm, thay áo v.v. mà con bướm vốn đậu trên đầu. Sau con mời mẹ lên bàn thờ vì đã khuya, thì con bướm bay lên bàn thờ.." Nghe như hoang đường nhưng thực tế là thế. Nói đến con bướm thì xin kể tiếp chuyện của Trần Minh Tùng học trò cũ của trường Lương văn Can. Em của Tùng đi bộ đội và bị mất ở Kampuchia. Có lập bàn thờ nhỏ tại nhà cạnh bàn thờ lớn của gia đình. Sau khi mất một thời gian cũng có con bướm bay vào nhà, bay lẫn quẩn trong nhà và cuối cùng đậu trên bàn thờ nhỏ bàn thờ của người em. Con bướm này bị gãy cánh giống như Em của Tùng bị thương ở chân rồi mới mất. Gia đình Tùng cho rằng con bướm này hiện thân của thằng em. Linh hồn của nó mượn xác của con bướm để về thăm gia đình. Gặp lại học trò cũ :
Buổi tối hôm sau là đến nhà Hiệp và Thành lại ăn nhậu có Hải + Vân, đa số là cựu học sinh ra trường năm 1973 và 1974. Tối thứ bảy có xe hơi đón đến nhà của Huỳnh văn Phương ở nhà bè nhậu nữa. Rất nhiều cựu học sinh mà bây giờ đây không thể nào nhớ hết được. Tối Chúa nhật các cựu học sinh của cấp lớp 1972 tổ chức ăn cá hấp bầu tại góc đường Hồng Thập Tự và Lê văn Duyệt cũ. Xuân chở đi. Có Châu Ngọc Tuyết, Tuyết Lâm người đẹp chụp hình tóc che nữa mặt trong E.Mail, có vợ chồng Chánh, vợ chồng Hoàng, thiếu Nguyễn Công Tài vì làm ăn ở Vũng Tàu không về được. Tuyết Lâm được giới thiệu là Phó Giám Đốc một công ty Hải Sản, một cô giáo trường điểm Lê Hồng Phong. Bữa ăn rất ấm cúng, chụp hình lia chia, không khí đầm ấm, vui tươi. Bữa tiệc tại 241 Nguyễn văn Cừ:
Năm nay khi về Việt Nam vì chỗ nhà hàng có giới hạn nên chỉ mời một số ít Cựu Giáo Sư và các cựu học sinh mà đa số là cấp lớp 1975 và một số em cấp lớp 1972. Được Ban Đại Diện tặng quà lưu niệm, lẵng hoa, tượng Thánh Gia bằng cây, khắc trổ rất đẹp tượng trưng cho gia đình Thánh Gia, rất hợp với ý của tôi. Gia đình Thánh Gia là gia đình sống gương mẫu hoà thuận, yêu thương nhau nhường nhịn, biết hy sinh cho nhau. Gia đình Thánh Gia là gia đình mẫu mực để cho các gia đình bắt chước. Đặc biệt hôm đó gặp lại Đặng Thái Sơn, người mà tôi đã mời mua vé số, Lúc tôi ở tù về không biết làm nghề gì, lãnh một mớ vé số để đi bán, không dám bán ở quận 8, nên đi bộ qua quận 5, hy vọng sẽ không gặp ai quen biết, sẽ không gặp lại học trò cũ vì vốn mắc cỡ. Nhưng vừa cầm một sấp vé số mời các anh chạy xích lô đang ngồi nghĩ, thì gặp Đặng Thái Sơn, chào Thầy, mời Thầy uống cà phê, hút một điếu thuốc có cán. Tôi vội vàng bỏ sấp vé số vào túi quần, uống chút cà phê, vội đi về nhà gấp nhờ con gái út lúc đó, 8 tuổi đi qua Chánh Hưng bán hết buổi chiều hôm đó. Gặp lại Sơn là nhờ anh Hưng chứ lúc đó đã lâu rồi tôi đâu nhớ nỗi khuôn mặt, hình dáng của Sơn ra sao?. Bữa tiệc thật đầy đủ gặp mặt hầu hết các học sinh cũ từng vận động tranh cử hồi 1974, kéo dài từ 11 giờ 30 tới 3 giờ 30 chiều mới chấm dứt. Thứ ba sau tôi lại được mời đến nhà Duy Cận và Kim Phụng ở đường Bùi Minh Trực để nghe hát Karaoke và ăn nhậu lai rai. Uống bia ăn hột vịt lộn, ăn thịt gà đi bộ từ 10 giờ sáng cho đến 8, 9 giờ tối. Giờ chót còn được Tuyết mang đến cháo hào ăn cho no để về khỏi ăn cơm và nhân tiện giới thiệu luôn nghề nấu cháo hào của Tuyết. Ngọc Liệp đến gần tan tiệc nhưng còn Mai Vân chưa đi về và có chụp một tấm hình rất đẹp cho hai người. Vậy mà trước khi tôi trở về Mỹ thì được tin Duy Cận, chủ nhà đã phát hiện mang bịnh ung thư lưỡi, và hôm tôi đi lên máy bay sáng thứ hai ngày 11-08-2003 là lúc Duy Cận nhập viện để điều trị bịnh Ung Thư. Lòng tôi buồn vô hạn.Còn trẻ đang vui tươi, hạnh phúc, vừa mới mời bạn bè, Thầy cô đến nhà để mừng cái nhà vừa cất xong. Niềm vui chưa trọn thì sự đau buồn lại đến. Biết nói sao bây giờ. Chỉ còn biết cầu nguyện và cầu nguyện cho được đúng Thầy, đúng thuốc để mau hết bịnh mà thôi. Gặp nhau tại quán café số 2 đường Lê Thánh Tôn:
Sáng thứ hai, trước lúc lên xe ra phi trường Tân Sơn Nhất, có anh Hưng đến thăm đã an ủi ba tôi và nói "Bác đừng lo vài năm nửa con bác cũng sẽ về nữa mà". Bữa tôi đi ba má tôi đều khóc, ba tôi khóc thành tiếng, má tôi cũng khóc nhưng má tôi cố gắng kiềm chế lại, chỉ chảy nước mắt mà thôi. Tôi cũng cố gắng giữ không cho nước mắt chảy ra, nhưng lòng buồn vô hạn. Khi vào phòng cách ly, nhìn Bóp, Trúc, thím ba, thím năm, Tính. Tôi không dám nhìn lâu, vội vẫy tay cho mấy người đó về sớm. Lại kẻ ở người đi. Lòng tôi đau buồn như xé ruột gan. Lúc cân hành lý nhân viên hỏi "có gì thì nói thiệt đi" thực ra mình đâu có mang gì theo bất hợp pháp đâu, nhưng khi họ đòi mở Va-li ra, sợ mất thì giờ nên phải dúi 5 đô-la để khỏi phải mở rương ra sắp lại mất nhiều thì giờ. Khi đến khâu xét giấy tờ, họ cứ nhìn mặt thật kỹ, hỏi tên họ, nơi sinh, ngày tháng năm sinh, mục đích cũng để đòi tiền, nhưng giấy tờ Passport Mỹ cấp, Mỹ không làm khó dễ mà thôi, chứ Việt Nam còn làm khó dễ gì nữa, nên tôi không đưa đồng nào cả và ở khâu này tôi bị đứng lại hơi lâu. Sau khi lên máy bay về lại Mỹ mang theo những phần quà của Thanh Vân, Thanh Trúc, của Mai Vân, của Ban Liên lạc Cựu Học sinh, những món quà gói ghém tình nghĩa Thầy trò, tình bằng hữu sau hơn ba năm, có người sau hơn mười năm, có người sau hơn hai mươi tám năm xa cách. Gặp gỡ hôm đó như làm sống lại thời gian còn trẻ, vừa mới đổi về trường này lúc chưa đầy ba mươi tuổi. Tình nghĩa thầy trò đó, tình bằng hữu đó, tôi không thể nào quên được. Trân trọng tất cả những tình cảm thân thương, yêu quý đó. Những tình cảm chân thật như làm sống lại thời niên thiếu, tưởng chừng như vừa mới hôm qua mà thôi. Phùng Văn Phụng
|