LƯƠNG VĂN CAN
Từ nhà giáo dục, nhà cách mạng đến nhà lý luận doanh thương

LÝ TÙNG HIẾU '78
(Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ)

§    Lương Văn Can - người tiên phong phát động phong trào chấn hưng thực nghiệp
     Lương Văn Can (1854-1927) là một nhà giáo, đồng thời cũng là một nhà cách mạng, một trong những lãnh tụ của phong trào Duy tân đất nước đầu thế kỷ 20. Từ khi cùng các bạn đồng chí tìm được hướng đi để tháo ách cởi xiềng cho dân tộc, cụ đã dốc hết tâm lực của bản thân và của cả gia đình vào sự nghiệp lớn của toàn dân, không quản bao gian khổ, hy sinh. Là sáng lập viên đồng thời là Thục trưởng của Đông Kinh Nghĩa thục (1907-1908), cụ đã góp phần thúc đẩy phong trào Duy tân - Đông du (1905-1908) phát triển mạnh mẽ trên khắp Bắc - Trung - Nam, làm nên một cuộc cách mạng văn hoá - tư tưởng và đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ra khỏi tầm nhìn chật hẹp của nho gia và ý thức trung quân phong kiến.
     Riêng trong lỉnh vực kinh doanh, Lương Văn Can là một trong những người tiên phong phát động phong trào chấn hưng thực nghiệp, và ngay trong những năm tháng lưu đày ở Nam Vang (Phnom Pênh) cụ đã cùng với gia đình tổ chức một đường dây thương mại xuyên biên giới rất thành công, từ đó đã mở đường cho nhiều thương gia Việt Nam sang Campuchia buôn bán làm ăn. Rồi cụ lại đem những kinh nghiệm kinh doanh của mình, kết hợp với những giá trị văn hoá, nhân văn truyền thống của Việt Nam để biên soạn hai tác phẩm Thương học phương châm (*)Kim cổ cách ngôn (*). Nội dung tổng quát của Thương học phương châm là bàn về vai trò của thương mại đối với sự phát triển kinh tế đất nước, về những nguyên nhân và hướng khắc phục tình trạng thương mại yếu kém ở nước ta. Còn Kim cổ cách ngôn thì đề cập vấn đề từ một góc độ mà ngày nay thường gọi là đạo đức kinh doanh, văn hoá kinh doanh. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, những vấn đề mới lạ như vậy đối với doanh nhân trong nước đã được trình bày và bàn luận một cách chuyên sâu, thấu đáo, và những ý kiến sắc sảo nêu ra trong hai cuốn sách trên gần đây đã được nhiều nhà sử học và nhà kinh doanh đánh giá rất cao vì những giá trị thiết thực của nó đối với sự nghiệp Đổi mới và mục tiêu dân giàu nước mạnh hiện nay .
     Chính vì vậy nên có thể nói, trong lịch sử Việt Nam cận đại, Lương Văn Can là một chí sĩ yêu nước có đồng thời ba tư cách: nhà giáo dục, nhà cách mạng Duy tân, và nhà lý luận về kinh doanh - thương mại; nhưng tư cách nổi bật, làm nên sự khác biệt giữa Lương Văn Can với những người đương thời và trước đó, chính là tư cách nhà lý luận về kinh doanh - thương mại.
     Bởi vì, nói về tư cách một nhà giáo dục thì trước và cùng thời với Lương Văn Can đã có không ít nhà giáo dục có đức độ và tầm ảnh hưởng lớn lao đối với cả một thế hệ trí thức hoặc một vùng miền của đất nước: Chu Văn An, Nguyễn Bĩnh Khiêm, Võ Trường Toản, Nguyễn Huy Đức, Khiếu Năng Tỉnh, Nguyễn Thức Tự, Trần Đình Phong… Cả Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh cũng có thể xếp vào số đó nếu hiểu khái niệm “nhà giáo dục” theo nghĩa rộng. So với những danh nhân đó thì hiển nhiên Lương Văn Can không phải là nhà giáo dục đầu tiên mà cũng không hẳn là người giỏi nhất. Còn nói về tư cách một nhà cách mạng Duy tân thì đồng thời với Lương Văn Can cũng có những tên tuổi lớn mà tầm nhìn có phần đi trước và tầm ảnh hưởng cũng vượt qua Lương Văn Can để vươn ra phạm vi toàn quốc và quốc tế, như Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Nhưng nói về tư cách một nhà lý luận về thương mại - kinh doanh thì không một ai cùng thời có thể sánh được với Lương Văn Can về tầm kiến thức (cả về thực tiễn và lý luận, cả về quốc gia và thế giới), và về phương pháp luận (kết hợp truyền thống văn hoá dân tộc với kỹ thuật kinh doanh hiện đại, kết hợp kinh nghiệm thực tiễn với tri thức về khoa học kinh doanh).
     Vậy cái duyên nào đã đưa một nhà nho, nhà giáo, nhà Duy tân luống tuổi như Lương Văn Can đến với lãnh vực kinh doanh trong bối cảnh công thương nghiệp hiện đại của Việt Nam hãy còn chập chững và giới công thương gia Việt Nam hãy còn non nớt cả về số lượng và thực lực (chẳng hạn, vào năm 1899, cả Hà Nội chỉ mới có 73 nhà công thương Việt Nam gồm 60 nhà buôn, 12 chủ xưởng và 1 thầu khoán)?

§    Nhân duyên thực nghiệp
     Lương Văn Can xuất thân trong một gia đình vừa là nhà nông vừa là thợ thủ công (nghề tiện gỗ), giống như nhiều gia đình khác ở làng Nhị Khê thời đó và cả bây giờ. Gia đình ấy vốn nghèo. Để cho anh em Lương Văn Can có tiền ra Hà Nội ăn học, thân phụ của cụ đã phải cầm cố ruộng đất, giống như nhiều bậc cha mẹ ở miền Trung, miền Tây ngày nay có con ra Hà Nội, lên Sài Gòn trọ học. Cho nên, bản thân Lương Văn Can vốn rất xa lạ với lãnh vực kinh doanh - thương mại. Khi Lương Văn Can lập gia đình, với cái danh ông cử tân khoa của Hà Thành, vừa đi thi lần đầu đã đổ ngay cử nhân thứ sáu (1874), cụ đã cưới được một người vợ vừa giỏi giang vừa cần kiệm là cụ bà Lê Thị Lễ (1857-1927), lại được món của hồi môn là một cửa hiệu ở phố Hàng Ngang. Đó có thể xem là phần thưởng cho hàng chục năm miệt mài đèn sách của cụ và công của vun bồi của mẹ cha. Và đó cũng là cái duyên đầu tiên gắn kết nhà nho, nhà giáo Lương Văn Can với một lãnh vực, một cái nghề mà xã hội Việt Nam xưa vốn coi khinh: kinh doanh - thương mại. Trong “Tứ dân” theo quan niệm của nhà nho, thương nhân là mạt hạng. Trong quan niệm của dân gian, thương nhân cũng chẳng được coi trọng hơn là mấy: đó là những kẻ gian xảo: Thật thà cũng thể lái trâu, Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng, vô cảm: Một trăm ông lái thanh nhàn, Không thương trai bạn cơ hàn nắng mưa, làm một cái nghề mà cực chẳng đã người ta mới làm: Mồng chín tháng chín có mưa, Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn; Mồng chín tháng chín không mưa, Thì con bán cả cày bừa đi buôn... Thế rồi, chồng dạy học, vợ (và về sau, có thêm con gái) buôn bán. Trong khi việc dạy học của Lương Văn Can còn có mục đích là lập chí, lập ngôn chứ không chỉ mưu sinh đơn thuần, thì việc kinh doanh của vợ con cụ có ý nghĩa thiết thực hơn, trực tiếp hơn: nó ảnh hưởng đến toàn bộ kinh tế gia đình. Vả lại, cảnh làm ăn buôn bán náo nhiệt của Hà Nội ba mươi sáu phố phường vẫn bày ra trước mắt hàng ngày. Nên cụ không thể nào không lưu tâm, không quan sát. Cái sự lưu tâm, sự quan sát ở đây không đơn thuần xuất phát từ ý thức của một người chủ gia đình, mà còn xuất phát từ ý thức của một trí thức khoa bảng biết ưu dân ái quốc. Cho nên, từ những điều quan sát được qua thực tế kinh doanh của gia đình và của hàng phố xung quanh, cụ đi tới chiêm nghiệm, như ta có thể phỏng đoán, để tìm ra trong cái thực tiễn sinh động đó một sợi dây kết nối giữa doanh thương như một phương tiện để mưu sinh và làm giàu cho bản thân, với doanh thương như một con đường để hồi sinh, để làm mạnh nội lực quốc gia…
     Cái duyên thứ hai đưa nhà nho, nhà giáo Lương Văn Can đến với doanh thương là khi cụ sáng lập và điều hành Đông Kinh Nghĩa thục (1907-1908). Đây là một cơ quan công khai do các sĩ phu yêu nước ở hai miền Trung - Bắc phối hợp lập ra để truyền bá tư tưởng yêu nước và duy tân trong các lãnh vực văn hoá - giáo dục, xã hội, và kinh tế. Riêng về kinh tế, chủ trương của Đông Kinh Nghĩa thục là kêu gọi quốc dân chấn hưng thực nghiệp, bỏ vốn mở mang công nghệ, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và khai mỏ… Thực hiện chủ trương đó, Ban Tu thư của Đông Kinh Nghĩa thục đã biên soạn sách Quốc dân độc bản (1907) bao gồm trong đó hàng chục đề mục nói về kinh tế, kinh doanh, và phổ biến bài Hợp quần doanh sinh thuyết (1907) của Nguyễn Thượng Hiền dưới hình thức song thất lục bát quốc ngữ để trình bày chủ trương kinh tế theo hướng Duy tân. Không chỉ thế, để thực hành tư tưởng chấn hưng thực nghiệp đồng thời cung cấp tài chính cho nhà trường và cho phong trào Đông du, một số thành viên của nhà trường còn thành lập tại Hà Nội các hiệu buôn Đồng Lợi Tế, Tuỵ Phương, Hồng Tân Hưng, Công ty Đông Thành Xương. Đó là chưa kể một loạt cơ sở kinh doanh khác do các hội viên hoặc những người chịu ảnh hưởng của tư tưởng Duy tân lập ra ở Hà Nội, Phúc Yên, Hưng Yên, Việt Trì… Tuy tồn tại ngắn ngủi (các cơ sở kinh doanh của Đông Kinh Nghĩa thục đều bị đóng cửa vào năm 1908), nhưng các cơ sở kinh doanh này đã đem lại không ít lợi nhuận và nhất là kinh nghiệm. Lần này, là Thục trưởng phụ trách việc chi xuất, kiêm thành viên Ban Tu thư của Đông Kinh Nghĩa thục, Lương Văn Can đã có điều kiện để chiêm nghiệm về doanh thương một cách thật sâu xa. Bởi vì mục đích của các cơ sở kinh doanh của Đông Kinh Nghĩa thục không dừng lại ở lợi nhuận, mưu sinh hay làm việc nghĩa ở phạm vi hẹp như cửa hàng của gia đình cụ, mà nó nhằm tạo nguồn tài chính, tạo tiềm lực kinh tế cho các hoạt động Duy tân - Đông du, cừ nước; và cùng với việc phổ biến các tài liệu học tập tuyên truyền liên quan đến kinh tế kinh doanh, nó còn nhằm canh tân não trạng của cả một dân tộc, một thế hệ đối với vấn đề kinh doanh, thương mại. Cho nên, tầm nhìn của Lương Văn Can đã nhờ những hoạt động ấy và mục đích ấy mà nâng lên một tầm cao mới: từ tầm nhìn của một người chủ tinh thần của một “doanh nghiệp gia đình” vươn lên tầm nhìn cấp dân tộc, quốc gia. Chỉ với tầm nhìn mới này, Lương Văn Can cũng như các nhà Duy tân khác mới có thể vượt qua được quan niệm cũ coi doanh thương như một phương tiện lợi mình hại người của “bọn lái buôn”, nâng doanh thương lên tầm một phương thức tự tồn, tự cường mới của dân tộc Việt Nam, kết hợp trong nó truyền thống văn hoá của dân tộc với kỹ thuật kinh doanh tân tiến của thế giới.
     Cái duyên thứ ba và cuối cùng đưa Lương Văn Can đến với doanh thương là khi cụ bị lưu đày sang Nam Vang (1913-1921), phải tự mưu sinh nhưng lại không thể dạy học để mưu sinh như trước nữa. Vậy cụ và người con trai út mà cụ đem theo lấy gì để sống? Xoàng ra thì cứ để mẹ con bà cụ Lễ buôn bán gởi tiền sang nuôi dưỡng. Nhưng cụ lại không xoàng. Những năm tháng chiêm nghiệm hoạt động kinh doanh của gia đình và Đông Kinh Nghĩa thục (và có lẽ cũng có tham gia ý kiến khi cần thiết) đã đem lại cho cụ nhãn quan nhạy bén của một nhà kinh doanh và tầm nhìn chiến lược của một nhà khai phá. Thấy rằng mảnh đất Nam Vang và Cao Miên vẫn còn là một thị trường trống trải (những Việt kiều ở Cao Miên thời ấy chủ yếu sống nhờ vào ngư nghiệp Biển Hồ và dịch vụ nhỏ, riêng buôn bán thì nằm trong tay Hoa kiều), cụ cùng con gái, con dâu tổ chức luôn hai rồi ba cửa hiệu, phối hợp với cụ bà Lê Thị Lễ ở Hà Nội và một số thương gia ở Sài Gòn, thiết lập đường dây buôn bán xuyên biên giới Việt - Miên. Việc kinh doanh từ đó phát đạt rất nhanh. Đó có thể nói là một thứ “công ty xuất nhập khẩu” đầu tiên mà thương nhân người Việt thành lập trong lịch sử. Trước đó, chợ búa ở Việt Nam hầu hết đều là chợ nhỏ. Việc “chạy chợ” là việc của các bà các cô, chứ đàn ông ít khi rớ động, trừ một số ngành buôn đòi hỏi sức vóc đàn ông (buôn trâu, buôn gỗ từ mạn ngược, v.v.). Tại các cảng thị xuất nhập khẩu hình thành trong hai thế kỷ 17-18 như Phố Hiến, Hội An, Nông Nại Đại Phố, Sài Gòn (Chợ Lớn ngày nay), thương lái người Việt cũng chỉ đạt đến tầm tập kết hàng đến phố, còn đầu mối giao dịch, mua bán với nước ngoài vẫn nằm trong tay các ông chủ người Hoa và các ngoại kiều. Cho nên, cái doanh nghiệp mà Lương Văn Can và gia đình lập ra ở Nam Vang tuy chẳng phải lớn lao gì so với ngày nay, nhưng tác dụng mở đường của nó phải khiến cho thương giới đương thời ngưởng mộ và noi gương tiếp bước, giống như người châu Âu theo dấu chiếc thuyền buồm nhỏ bé của Christopher Columbus sang chinh phục Tân Thế giới.
     Tất nhiên, lần này, vì Lương Văn Can đã già rồi, nên cụ chỉ hướng đạo chứ không can dự trực tiếp vào việc buôn bán nữa. Như cụ tự sự: Buôn tính hơn thua toan mặc trẻ (1921). Nhưng cũng chính nhờ tuổi tác mà cụ càng thâm trầm hơn, sâu sắc hơn trong kiến thức và trong các triết lý của mình đối với hoạt động kinh doanh ở tầm quốc gia và quốc tế mà cụ quan sát được, tìm hiểu được. Và, cũng chính vì ý thức về tuổi tác của mình, cộng với sự cho phép của hoàn cảnh, mà cụ mới có thể thực hiện ý định viết để lưu hậu thế những kiến thức, phương châm và triết lý mà mình thu hái được, chiêm nghiệm được. Thương học phương châm và Kim cổ cách ngôn là hai tác phẩm đã hình thành trong điều kiện đó. Nó không phải xuất phát từ một ý tưởng thiên tài đột xuất, cũng không phải là biên dịch xào nấu lại một tác phẩm dạy làm doanh thương của nước ngoài, mà đúc kết những kiến thức và suy nghiệm của cả một đời người. Hai cuốn sách đó của Lương Văn Can tuy không đồ sộ như các sách nói về kinh tế, kinh doanh xếp chật trong các nhà sách ngày nay, nhưng giống như cánh én báo hiệu mùa xuân, nó đánh dấu sự ra đời của một tầm nhìn mới, một kiến thức mới, một phương pháp mới đối với lãnh vực kinh doanh - thương mại của doanh nhân và trí thức Việt Nam đầu thế kỷ 20. Mong rằng một ngày gần đây, những người có điều kiện tiếp cận bản thảo hai cuốn sách trên sẽ tổ chức xuất bản nó (nói cho đúng là tái bản, vì cả hai cuốn đều đã được xuất bản sau khi Lương Văn Can trở về Hà Nội năm 1921, nhưng hiện chỉ tìm thấy ở dạng bản thảo tại Thư viện Khoa học Trung ương), để qua đó góp phần làm rạng rỡ truyền thống kinh doanh để phụng sự xã hội và phát triển quốc gia của doanh nhân Việt Nam.
          TP.HCM, 27/10/2006



(*)   Về nội dung chính của hai tác phẩm trên, xin tìm đọc:
     -   Dương Trung Quốc, Đạo làm giàu của doanh nhân, báo Diễn đàn Doanh nghiệp số 32, 19/4/2001.
     -   Dương Trung Quốc, Soi lại tấm gương xưa, báo Tiền phong số 205, 13/10/2004.
     -   Lý Tùng Hiếu, Lương Văn Can và phong trào Duy tân - Đông du, NXB Văn hoá Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh, 2005.
     -   Thư Hoài, Lương Văn Can – người thầy của giới doanh thương, Thời báo Kinh tế Sài Gòn số xuân Quý Mùi 2003.
     -   Trần Thái Bình, Lương Văn Can, người thầy đầu tiên viết sách dạy buôn bán ở Việt Nam, tạp chí Xưa và Nay số 37, 3/1997, đăng lại trong cuốn Tìm hiểu lịch sử Việt Nam, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2001.